[Series][YongGuk-Centric/BangHim][PG-15] Những chuyến đi xa – Thụy Điển (3)

pizap.com14626964506191

Author: Rainy Nguyễn aka Han Yi

Diclaimer: họ không thuộc về tôi, nhưng số phận của họ ở đây do tôi quyết định.

Caterogy: romance, sad, travel, centric, mystery

Characters: Bang Yong Guk, Kim Him Chan và một số nhân vật khác…

Summary phần I: Yong Guk đến Thụy Điển vào một tháng trời hãy còn se lạnh, gã đi nhiều nơi, quen biết nhiều người, gặp nhiều chuyện kì lạ như cửa hàng Louis. Nhưng đâu đó trong gã, vẫn là nỗi nhớ Him Chan đến cồn cào…

Rating: PG-15 (có vài phân đoạn H không phù hợp với người dưới 15 tuổi)

Warning: Fic viết về người thật nhưng những địa điểm và những việc làm của nhân vật đều không có thật (nếu có là do trùng hợp). Những ai anti boyxboy hoặc không thích thì xin click back. Tác giả sẽ không chịu trách nhiệm nếu người đọc có tổn thương về mặt tinh thần.

Note: Như mình đã nói, fanfic này được viết bằng vốn kiến thức hạn hẹp, cho nên mình chỉ có thể đi đến giới hạn hiểu biết của bản thân thôi. Những thứ nằm bên ngoài những gì mình biết, mình có thể sẽ có sai sót. Mong các bạn thông cảm.

MỤC LỤC

Anyway, chúc vui vẻ.

DO NOT TAKE OUT!


Chương 3

Ngày thứ ba ở Thụy Điển của Yong Guk bắt đầu bằng bữa sáng với bánh kếp “Pannkakor” tráng mỏng và ăn kèm với hoa quả vị ngọt. Caroline bảo rằng hôm nay cô sẽ dẫn gã và Hiroki đến Kungshuset và Thánh đường đá Lund, sau đó sẽ tạm biệt họ ở ga xe lửa trung tâm. Hành lý của hai người sẽ được chuyển đến ga trước, nên họ không phải vướng bận gì. Trước khi rời khỏi nhà khách, Yong Guk và Hiroki đã cúi chào những người làm ở đó. Họ thật sự đã rất thân thiện và nấu những bữa ăn rất ngon.

Khi taxi đến Kungshuset thì đã là gần mười giờ sáng. Kungshuset nằm trong công viên Lundagård, gần Đại học danh tiếng Lund. Không như cái tên Kungshuset, nghĩa là “nhà của vua”, nơi này lại được xây dựng để làm nơi cư trú cho các giám mục ở Lund trong những năm cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XVI bởi vua Frederick II của Đan Mạch. Tòa nhà mang lối kiến trúc cổ này cao ba tầng và có một đài quan sát làm cửa vào chính. Sau Hiệp ước Roskilde 1658 và sự kiện thành lập trường Đại học Lund năm 1666, Kungshuset được trưng dụng làm tòa nhà chính cũng như là thư viện của trường. Tòa nhà được trùng tu lại vào giữa thế kỉ XIX và hiện tại, Kungshuset là tòa nhà chính của khoa Triết học.

“Tôi biết có thể các anh sẽ không biết tiếng Thụy Điển, nhưng có muốn vào trong xem thư viện của họ một lúc không? Ngay bên dưới thư viện cũng có một phòng dành cho những sinh viên đến cầu nguyện với Chúa. Nhưng một lát nữa chúng ta sẽ đến Thánh đường Lund nằm cách đây khoảng 50 mét nên tôi sẽ không đưa hai người vào đó đâu.” – Caroline men theo con đường hẹp dẫn lối vào cửa chính của tòa nhà. Cô đẩy cánh cửa gỗ nặng nề ra rồi dẫn Yong Guk và Hiroki lên thư viện.

Bên trong thư viện rất thoáng đoãng và sạch sẽ, như thể căn phòng hứng được hoàn toàn ánh sáng của mặt trời. Sàn nhà lót gạch cẩm sáng bóng. Trên trần có treo đèn dọc theo lối đi. Bàn ghế được sắp xếp rất ngộ. Dọc theo hai bên đường đi là những kệ sách gỗ xếp đầy những cuốn sách và được phân theo thể loại rõ ràng. Cứ một kệ sách thì kết bên sẽ là một bộ bàn ghế gỗ sáu người ngồi, và rồi sẽ là một kệ sách khác. Cách sắp xếp ấy kéo dài đến cuối phòng. Hơn thế nữa, sát hai bên mép đường đi là những cây cột chống trần nhà, giữa hai cây cột sẽ đặt một cái ghế salon theo lối hiện đại một người ngồi. Và tương tự, chúng cũng kéo dài đến cuối phòng. Cuối phòng đặt một cái kệ sách lớn hơn tất cả những cái kệ khác, giữa hai bên cửa kính hình vòm, phía trước đặt một cái bàn ghỗ dài và tám cái ghế gỗ cùng kiểu. Dưới cửa sổ hai bên kệ sách đó, người ta đặt ở đó một cái bàn trà hình vuông và một cái salon đệm một người ngồi. Chỉ khác ở chỗ, ở dưới cửa sổ bên trái, được đặt thêm một chậu cây.

Vì đang ở trong kì nghỉ xuân nên sinh viên đến thư viện rất ít. Cho dù Lund được ví như thành phố của sinh viên, thì khoảng thời gian nghỉ xuân vẫn là nên về nhà với gia đình hơn là đến thư viện.

Hiroki đứng bên cửa sổ, anh say mê ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài và giàn dây leo xanh mướt bò khắp gần nửa bức tường của Kungshuset. Những cái dây leo căng tràn sự sống ấy như khiến anh nhớ lại những tháng ngày cũ, cùng với Tori.

“Đẹp lắm phải không?” – Caroline hỏi Hiroki, khi thấy anh cứ mãi đứng ngây ra đó.

“Phải. Rất đẹp.” – anh đáp.

Yong Guk lại đưa máy ảnh lên chụp hai bóng người, một tóc cam đỏ, một tóc nâu, đang đứng cạnh cửa sổ có giàn dây leo như muốn chui lọt vào trong. Chợt, gã nhận ra mình vừa quên mất Him Chan, trong một tẹo.

 

Cả ba quyết định sẽ đi bộ đến Thánh đường. Họ băng qua những lối mòn trong công viên xanh ngắt, tận hưởng sự tươi mới của những chiếc lá mơn mởn. Thánh đường dần hiện ra trước mắt, một tòa nhà bằng đá cao sừng sững với hai màu đen trắng, ẩn hiện nét cổ kính qua rêu phong phủ dưới chân tường. Hôm nay có vẻ vắng lặng. Yong Guk bước vào trong đầu tiên. Một cảm giác mong muốn mãnh liệt tràn vào lòng gã khi gã nhìn thấy hai hàng ghế xếp dài bên dưới mái nhà hình vòm cung. Gã mong một lúc nào đó, có thể cùng Him Chan đến đây, nắm tay nhau đứng dưới sự chứng giám của Thánh Lawrence Martyr. Và ở bên nhau cả đời.

Gã bắt đầu cầu nguyện.

“Có muốn tôi chụp cho anh một tấm ảnh không?” – giọng nói của Hiroki vọng vào từ cửa. Yong Guk quay lại. Anh chỉ vào máy ảnh gã đang đeo.

“Anh không cầu nguyện sao?”

“Không. Anh bạn, tôi đạo Phật.” – anh chàng người Nhật xua tay.

“Vậy, làm phiền anh.” – gã giao cho Hiroki máy ảnh. Gã ngồi vào hàng ghế và bảo anh chỉ nên chụp lưng của gã thôi. Gã không thích chụp ảnh cho lắm.

Cuối cùng, gã cũng đã có một bức ảnh rồi.

“Cảm ơn anh, Aiba.”

Rời Thánh đường, Caroline đưa Hiroki và Yong Guk đến một nhà hàng nằm trên đường Kyrkogatan. Cả thức ăn lẫn phục vụ đều rất chu đáo, hai tên khách du lịch còn được ưu đãi thử rượu vang đỏ miễn phí. Khoảng tầm hơn một giờ rưỡi chiều, Caroline tiễn hai kẻ châu Á lên tàu trở về Stockholm. Hành lý của họ đã được xếp gọn ở vị trí ghế ngồi. Cô gái tóc đỏ tròn người đứng bên đường rây, cầm tấm danh thiếp của cửa hàng Louis vẫy chào Yong Guk và Hiroki. Và gã thề rằng, ngay khi còi tàu rít lên và bánh xe lửa bắt đầu những vòng quay đánh tiếng ồn ào, tấm danh thiếp đã tan biến ngay trong lòng bàn tay của Caroline…

 

Xe lửa đã chạy được hơn hai giờ, Yong Guk ngồi muốn phát chán. Hết xem đi xem lại ảnh hôm nay chụp được, lại mở điện thoại ra nghịch. Bên ngoài, nắng hắt vào trong đầy rực rỡ.

“Vậy là hai tiếng nữa chúng ta phải tạm biệt nhau rồi?” – Hiroki, lần này ngồi sát cửa sổ, bỗng nhiên cất tiếng nói bâng quơ.

“Sao?”

“Tối nay tôi phải về Nhật, chuyến lúc tám giờ, vậy là không thể cùng với anh Bang đi tham quan Stockholm rồi. Thật tiếc quá!” – Hiroki tặc lưỡi đầy tiếc nuối. Anh tựa đầu vào cửa kính và nhìn Yong Guk đang bối rối lựa lời tạm biệt.

“Vậy, chúng ta… có thể chụp với nhau một tấm ảnh không?” – gã gãi đầu, cho tay vào túi lấy điện thoại ra. Him Chan từng nói, cách tốt nhất để lưu lại kỉ niệm, chính là chụp ảnh.

“Được chứ. Tôi cũng rất muốn chụp hình với anh mà.” – Hiroki cầm lấy điện thoại của Yong Guk. Anh mở camera trước và giơ lên, tựa mái đầu nâu sẫm lại gần hơn với gã. Hiroki cười thật tươi và làm bức ảnh trở nên sáng lạ thường.

“Cảm ơn.” – Yong Guk ngây người khi nhận lại điện thoại.

“Đây là mail của tôi. Một lát nữa khi anh về đến khách sạn, hãy gửi nó cho tôi nhé!” – chàng trai Nhật giật lại điện thoại của gã và để lại mail của anh vào ghi nhớ. – “Cả những bức ảnh hôm nay anh chụp có tôi ở trong đó nữa nhé!”

Gã thoáng giật mình. Làm sao Hiroki biết gã chụp lén anh ta?

Hiroki chỉ cười hì hì. Sau đó tiếp tục dán mắt vào cảnh vật bên ngoài ô cửa tàu. Anh thầm nghĩ, cái thằng nhóc ở Louis nói đúng, Bang Yong Guk có cái gì đó hơi giống với Tori. Một chút thôi, nhưng đủ để anh cảm nhận được Tori vẫn ở trong trái tim anh, và sẽ mãi luôn ngự trị nơi đó.

 

Sau gần bốn giờ đồng hồ ngồi trên xe lửa, Hiroki và Yong Guk cũng đặt chân trở lại Stockholm. Cả hai tạm biệt nhau ở cổng ga trung tâm rồi Hiroki bắt một chiếc taxi thẳng đến sân bay. Trước khi chiếc xe rời đi, anh tặng lại cho Yong Guk một nụ cười và một cái vẫy chào nồng nhiệt.

Gã đứng đó cho đến khi chiếc taxi rẽ sang đường khác và mất bóng hẳn. Trời bắt đầu tan tầm. Yong Guk cũng bắt một chiếc taxi cho chạy về khách sạn. Gã cần phải gửi hình cho Him Chan. Gã nhớ cậu đến chừng nào…

Radio taxi phát một bài hát tiếng Anh rất bắt tai, với âm điệu từ những cái đập tay và lời ca đáng yêu:

Ôi, đó là một đoạn đường dài và khúc khuỷu

Nhưng em không cần phải đi một mình

Bởi vì cho dù là ở bất cứ đâu, anh sẽ mang theo em trong tim

Và anh sẽ nghĩ về em mỗi khi anh cất bước.

Nó làm gã nhớ lại những lần Him Chan một mình đi Lễ hội táo ở Hamyang, tỉnh Gyeongnam. Vừa đến đó, cậu đã chụp rất nhiều ảnh rồi gửi cho gã. Hoa táo nở rất đẹp, trắng cả một vườn. Có vườn đã ra trái sum suê, cậu bảo, lúc ấy nhiều đến mức đưa tay qua đầu một cái đã hái được. Him Chan rất thích táo. Mùa táo năm nào cũng đi Hamyang. Khi thì đi một mình, khi lại rủ theo ai đó. Nhưng thường là đi một mình. Có một lần gã hỏi cậu tại sao, cậu bảo:

“Vì tớ vẫn chưa tìm được ai thích hợp để đi cùng.”

“Vậy còn tớ?”

“Cậu xem tớ là gì?”

“… bạn.”

Sau đó, Him Chan vẫn đi một mình. Và lần này, suốt ba ngày ở Hamyang, cậu không gửi cho gã tấm ảnh nào cả. Gã cứ đợi, và đợi. Cậu liên tục đăng ảnh lên instagram, nhưng vẫn không gửi cho gã. Gã tiếp tục đợi thêm chút nữa, tự nhủ rằng chắc cậu quên thôi, biết đâu một chút nữa sẽ gửi. Vậy mà cho đến ngày Him Chan về, hộp mail vẫn trống rỗng. Không một tấm ảnh Hamyang nào, không một tấm ảnh hoa táo nào, không một tấm ảnh Him Chan nào. Yong Guk thấy thất vọng. Gã còn nhớ buổi chiều hôm đó, khi cậu gọi gã ra bến xe buýt đón cậu về, gã đã đến muộn một tiếng, nguyên nhân gì thì gã cũng chẳng nhớ. Có điều, Him Chan vẫn ở đó đợi gã. Cùng với một giỏ táo tươi chín mọng. Cậu còn ép khô một bông hoa táo, cẩn thận đặt vào giữa hai miếng decal hình vuông trong suốt rồi dán mép lại. Him Chan bấm một cái lỗ nhỏ, xỏ vào đó cái móc đeo. Tất cả táo và hoa, cậu mang tặng cho Yong Guk. Cậu bảo có một chị trong làng chỉ cậu như vậy. Chị bảo, như vậy chính là mang cả Hamyang về nhà rồi.

Lần đó, Him Chan còn nói: “Tớ nhớ cậu. Mỗi ngày đều cố ép bản thân không được gọi điện cho cậu, thử xem mình chịu đựng được bao nhiêu ngày. Và tớ đã chịu được ba ngày, nhưng tớ nghĩ mình sắp điên mất.” Lần đó, gã thực sự không biết nên phản ứng thế nào…

Nhớ ra chuyện đó, Yong Guk nhanh tay chép lại đoạn nhạc vào quyển sổ gáy lò xo mua ở Gamla Stan, do không biết tên bài hát nên đành phải để chú giải phía dưới là: “Điệp khúc của một bài hát tiếng Anh nghe được trên radio taxi.” với ý định sẽ tìm tên nó.

Trời đã bắt đầu trở lạnh. Rất nhanh, taxi đỗ lại trước khách sạn của gã. Yong Guk ghé qua quầy tiếp tân lấy chìa khóa phòng thì cô tiếp tân đưa cho gã một hộp quà, bảo rằng có người tặng. Gã cảm ơn và mang nó lên phòng. Đó là một hộp quà hình lập phương màu Limpet Shell, bên trên nắp đậy gắn một cái nơ hoa trắng. Nó rất nhẹ, tưởng như bên trong trống rỗng. Gã ngồi trên giường, mở nó ra. Bên trong xếp đầy những sợi giấy lót hộp, ở giữa có hai tấm vé. Một vé trọn gói đi công viên giải trí Gröna Lund ngày hôm nay. Một vé xem kịch nói của nhà hát Royal Dramatic vào năm giờ chiều ngày mai. Yong Guk hơi thẫn ra một tẹo. Bên dưới hai tấm vé có một mảnh giấy nhỏ hình vuông, thơm phưng phức:

Hurry up and don’t make lady wait. Louis.

Gã cảm thấy chuyện này thật kì quái. Rốt cuộc thì cái cửa hàng Louis ấy và cả con bé người Á Đông đó muốn gì ở gã? Gã không phải người nổi tiếng, cũng không tham gia ma giáo hay các chương trình may mắn trúng thưởng tầm phào trên mạng và gây thù chuốc oán với ai đó lại càng không thể nào. Vậy thì tại sao?

Nhưng Yong Guk vẫn quyết định sẽ đến Gröna Lund với hi vọng gặp lại Louis – gã tạm gọi cô gái chủ cửa hàng như vậy – và tìm hiểu rõ ngọn ngành sự việc.

 

Gröna Lund khá nhỏ bé nếu đem so với những khu giải trí khác. Nhưng tựa như một ngọn đèn khổng lồ, nó soi sáng toàn bộ vùng đất quay về phía biển của đảo Djurgården.

Yong Guk mặc một cái len tay dài màu xám tro, khoác ngoài là áo bóng chày số hiệu 06, chân đi đôi sneaker hiệu Converse màu xanh xám. Choàng thêm cái khăn cổ dày màu đen, trông gã chìm nghỉm giữa sự rực rỡ về đêm của Gröna Lund. Gã đứng ở cổng ra vào, chờ đợi một ai đó mà chính gã cũng không rõ người đó là ai.

Đúng bảy giờ không hơn không kém, một cô gái tóc vàng mắt xanh sneaker Nike đỏ hớt hải chạy đến trước mặt Yong Guk.

“Làm ơn cho tôi hỏi, anh có phải Bang Young Gun không?” – Nike đỏ vừa thở hổn hển vừa hỏi gã.

“Bang Yong Guk. Xin chào. Cứ gọi tôi là Yong Guk. Và tôi không hiểu tiếng Thụy Điển.” – gã chìa tay ra, đợi một cái bắt tay. Đây không phải là cô gái mà gã chờ mong.

“Thứ lỗi tôi đến trễ. Tên tôi là Elsa Hosk. Cứ gọi là Elsa cho tiện.” – Elsa bắt tay gã, chuyển ngôn ngữ nói. Cô cười nồng hậu. Một khuôn mặt xinh đẹp.

“Elsa. Cô chưa muộn đâu.” – Yong Guk cười xòa, gã lướt nhìn đồng hồ đeo tay.

“Nhưng nếu cứ đứng đây chào hỏi chúng ta sẽ muộn mất. Mình vào thôi!” – Elsa tìm trong túi quần jeans ra một tấm vé vào cổng. Cô kéo tay Yong Guk.

Bởi vì Elsa vừa ăn tối nên cô và gã đi Đường hầm tình yêu (Tunnel of Love) trước tiên. Những con thuyền có bánh xe màu nâu sơn trắng hai đầu, có hình dạng trông như những khúc gỗ. Ở giữa thuyền khoét rỗng tạo chỗ cho vừa vặn hai người ngồi, tay cầm gắn phía trước giúp người chơi giữ thăng bằng. Chúng xếp hàng dài trật tự, im ắng chờ đợi những vị khách sắp bước vào. Yong Guk và Elsa lên con thuyền cuối cùng, vì cả hai đều mình dây nên không phải chật vật với con thuyền bé tí tẹo. Phía trước họ là một gia đình bốn người chia làm hai thuyền.

Các con thuyền bắt đầu dịch chuyển trên đường ray khi mọi người đã lên hết. Chúng lăn bánh qua cổng trái tim sau đó rơi khỏi đường ray và theo đà đi xuống mặt nước. Dòng chảy đưa mọi người vào đường hầm tối tăm. Đúng chất một trò chơi cho trẻ em, người ta phát những bài hát thiếu nhi của Thụy Điển trong suốt hành trình đi đến đầu bên kia của dòng sông. Trông Elsa như mong đợi một điều gì đó.

Bên trong đường hầm rất tối. Hai bên dòng sông người ta dựng nên các mô hình cho trẻ nhỏ. Từ những mô hình lấy ý tưởng từ cổ tích hay những mô hình thu nhỏ rất đời thực như mỏ than, tiệm bánh, cảng biển,… đều được tỉ mỉ dựng nên. Mỗi con búp bê bên trong mô hình được lập trình để làm những công việc của chính nó. Búp bê thợ mỏ sẽ đào đá bằng cái mũi đập bé xíu, búp bê thợ làm bánh sẽ liên tục lăn bột còn búp bê bán hàng sẽ làm nhiệm vụ giao bánh cho khách. Yong Guk ngắm nhìn hai bên đường, Elsa vẫn im lặng và mong đợi một thứ gì đó. Chẳng phải rất lạ sao? Cô ấy hẳn đã phải ra vào nơi này đến mức thuộc tất cả vị trí của từng con búp bê, vậy mà vẫn còn háo hức như vậy.

“Đây rồi!” – Elsa bỗng thảng thốt, cô gái kéo nhẹ tay áo Yong Guk, chỉ về phía một lồng kính sáng trưng. Gã nhìn theo hướng tay cô. – “Một ông già phù thủy đầy quyền năng.”

Trong cái lồng kính, Yong Guk nhìn thấy một con búp bê thầy phù thủy to lớn như người thật. Ông được mặc lên một cái áo choàng màu xanh dương sáng và một cái mũ phù thủy rộng vành cũng màu xanh dương sáng nốt. Tay trái cầm một cái gậy phép gỗ, phía bên tay phải dựng một quả cầu pha lê đặt trên một cái cột cũng bằng gỗ nốt. Râu ria thầy phù thủy vừa dài vừa xồm xoàm, và trắng muốt. Ông phù thủy nở nụ cười hiền hậu với tất cả trẻ em đi qua đường hầm này. Lồng kính của ông cũng sáng hơn hẳn và quả cầu pha lê bên phải phản chiếu ánh sáng, óng ánh lên như có phép thuật. Làm gã nhớ đến ông cụ Dumbledore trong phim Harry Potter.

Äppel, päppel, pirum, parum

Kråkan satt på tallekvist

Hon sa ett, hon sa tu

Ute ska du vara nu

Ja just du!

Elsa bắt đầu hát khe khẽ. Một bài hát tiếng Thụy Điển, gã nghĩ vậy. Cô cứ hát. Lặp lại. Một lần. Hai lần. Đến lần thứ ba. Thuyền của cô và gã đi qua một lồng kính khác cũng sáng trưng. Bên trong lồng kính có một chú hề đang làm xiếc, phía sau là một cỗ xe ngựa không có ngựa, ngồi trong cỗ xe có một cô gái xinh đẹp, với một khuôn mặt không biết dùng từ gì để miêu tả cảm xúc. Bỗng gã thấy nhộn nhạo một chút, hình như chú hề vừa mới cười và vẫy tay với mình thì phải.

“Ute ska du vara nu. Ja just du!” – Elsa hát đến cuối đoạn thứ ba. Gia đình bốn người phía trước đã biến mất từ lúc nào.

“Cô là ai?” – Yong Guk mặt không cảm xúc. Gã hỏi cô gái.

“Có một người đã nhờ tôi đưa anh đến đây. Người đó không hiểu sao lại biết được bí mật của tôi.” – Elsa giữ nguyên sự nồng hậu trên khuôn mặt. Cô chậm rãi nói.

“Bí mật của cô?”

“Phải. Ngay từ khi còn rất nhỏ, tôi đã rất thích Gröna Lund. Mỗi lần đến đây, tôi đều nằng nặc đòi bố mẹ cho đi Đường hầm tình yêu. Năm tôi 12 tuổi, lớp tôi tổ chức một chuyến tham quan đến đây. Tất cả bạn bè của tôi không ai muốn đi Đường hầm, chỉ có mình tôi. Chúng nó dè bỉu tôi rất nhiều, bảo tôi là trẻ con, vậy mà tôi vẫn xuống đường hầm. Tôi vào trễ, phải ngồi ở thuyền cuối. Tôi vừa đi vừa khóc vì bị chọc ghẹo. Đến khi con thuyền của tôi đến chỗ thầy phù thủy, bỗng nhiên có ai đó bảo tôi hãy hát ba lần bài “Apple, Papple, Pirum, Parum”. Và tôi hát. Đến câu kết thúc lần thứ ba, thì tôi nhận ra mình đã đến đây…”

Yong Guk hướng mắt theo ánh nhìn của Elsa. Họ vẫn đang ngồi trong chiếc thuyền khúc gỗ. Chỉ có điều chiếc thuyền giờ đã không còn xuôi theo dòng chảy của con rạch nhỏ bên trong Đường hầm tình yêu nữa, mà nó đang trôi đi giữa tầng tầng lớp lớp sương mờ.

“Chúng ta đang đi đâu?” – gã nhìn quanh quất. Có vẻ như ở đây không có dấu hiệu sự sống nào.

“Vườn táo của ông già phù thủy.” – Elsa đáp vừa lúc con thuyền đụng cộp vào một tảng đá nhỏ chìa ra từ đất liền. Cô dùng sợi dây thừng đang cột vào tảng đá, cột vào tay cầm giữ thăng bằng của con thuyền, giữ cho nó cố định và không bị trôi đi. – “Đi nào!”

Cô gái đi đôi Nike đỏ dẫn đường cho gã. Cô cẩn thận bước từng bước chân qua màng sương, đưa gã đi đến một nơi mà cô gọi là “vườn táo của ông già phù thủy”. Chẳng mấy chốc, hai người họ đã tới nơi cần tới. Sương tan dần, mở ra một lối đi dẫn qua một khu vườn. Khoảng cách còn khá dài, nhưng Yong Guk đã có thể ngửi thấy mùi táo thơm phảng phất trong không khí.

Gã cứ thế đi theo cô gái qua cánh cổng vòm. Thật lạ, chẳng có cái hàng rào nào cả nhưng sao vẫn dựng một cái cổng chứ?

“Vì vườn táo lớn nhanh quá, ông ấy sợ hàng rào cản trở sự lớn lên của chúng nên mới không xây hàng rào.” – Elsa cười khúc khích.

Rồi cô dẫn Yong Guk băng qua vườn táo, chúng to lớn hơn so với những gì gã biết về táo. Hay nói cách khác, chúng đúng nghĩa là những cây táo khổng lồ. Gã trầm trồ một tẹo. Vườn táo đang được mùa, ra quả xum xuê và chín mọng. Những quả táo đỏ to bằng quả bóng đá nặng trĩu, khẽ đung đưa như chào đón những vị khách lạ. Cuối lối đi, gã nhìn thấy một căn nhà gỗ có ống khói. Làn khói mỏng uốn lượn chui ra từ ống khiến gã cảm thấy ấm áp và dễ chịu.

“Ông ơi!” – bỗng Elsa reo lên, như thể cô vừa được trở về căn nhà của chính mình. Cô gái nhảy lên bậc tam cấp gỗ. Vừa lúc đó, một ông già râu tóc vừa bạc vừa dài mở cửa ra. Mùi bánh táo ngào ngạt trong không khí.

“Ồ! Elsa đó hả? Ông đang nướng bánh táo, cháu có muốn một cái không?” – ông già niềm nở ông lấy Elsa như ôm cô cháu gái nhỏ, nói liền mấy câu gã chẳng hiểu nổi. – “Còn ai đây?”

“Yong Guk đó ông.” – Elsa rời khỏi vòng tay của ông già. Cô cởi giầy, đi vào trong nhà. – “Ông để đấy con xếp ra đĩa cho!”

“Chào cậu. Ngồi, mau ngồi đi! Cứ tự nhiên nhé!” – ông già kéo một cái ghế ra và ngồi xuống bàn trà đặt dưới cửa sổ bên trái căn nhà, ra hiệu cho gã cùng ngồi. Gã cũng kéo một cái ghế rồi ngồi xuống, nhìn ra vườn táo.

Gã gật đầu như cảm ơn.

“Ăn thử bánh táo ta làm một lát rồi hẵng vào vườn hái táo với Elsa nhé?” – ông già nói, vừa lúc Elsa đặt lên bàn ba đĩa bánh táo và ba cái nĩa, dịch lại cho gã nghe. Cô kéo một cái ghế xuống bên cạnh ông.

Gã nghĩ mình hẳn đã ngồi ăn bánh táo rất lâu trước khi được Elsa giao cho một cái giỏ to oành và vào vườn táo. Cô bảo hái bao nhiêu cũng được, nhưng quan trọng là nặng lắm không mang về hết nổi đâu. Vì thế mà gã đã quyết định sẽ hái sáu quả thôi, chắc là được mà nhỉ?

Nhưng mọi thứ không như gã tưởng. Yong Guk hái quả táo đầu tiên và thấy nó rất nặng. Gã nghĩ mình chỉ nên hái hai quả thôi, vừa tiện vừa nhẹ. Và vì chỉ có thể hái hai quả thôi, nên gã cố chọn hai quả đẹp nhất, chín mọng nhất, ngon mắt nhất. Him Chan rất thích táo mà.

Vậy là Yong Guk cứ đi vòng vòng. Một hồi lâu sau, gã phát hiện ra mình đã ở rất sâu trong vườn táo, cũng không thấy Elsa đâu nữa. Gã cứ nhìn quanh quất, bắt gặp một quả táo ở trên cao. Quả táo chín căng tròn, bóng bẩy và hoàn hảo đến mức không tưởng. Gã với tay lên hái nó xuống. Hương táo tỏa ra ngay khi Yong Guk vừa ôm được nó vào lòng. Him Chan hẳn sẽ rất thích.

“Yong Guk, anh xong chưa?” – Elsa từ đâu ló đầu ra. Gã có thể thấy cô đang lôi xềnh xệch một giỏ táo lớn trên mặt đất.

“Để tôi giúp.” – Yong Guk chạy đến đặt quả táo của mình vào giỏ rồi cùng cô gái mang giỏ táo trở về căn nhà gỗ.

 

Gã và Elsa chào tạm biệt ông già phù thủy. Họ có vẻ đã ở đó rất lâu, cùng ông già ăn bánh táo và uống trà táo, nhưng vẫn chưa thấy ông thi triển một chút phép thuật nào. Elsa bảo, bởi vì ông già rồi, không còn thích thể hiện như lúc trước nữa, ông nói phép thuật của ông phải đề cần thiết lắm mới dùng.

Yong Guk mang về hai quả táo, cố lắm mới nhét hết được vào ba lô. Còn Elsa thì chẳng mang về quả nào. Lúc đến chỗ dòng sông, khó khăn lắm cả hai mới ngồi gọn được trên cái thuyền bé tí xíu, mà con thuyền cũng chìm xuống nước hơn lúc họ đến. Cô gái Thụy Điển lại khúc khích cười, hỏi gã “Có phải anh tham lam quá rồi không, lấy những hai quả táo?”. Gã lắc đầu, gã bảo Him Chan thích táo lắm. Elsa lại cười, tiếp tục hỏi gã “Vậy nếu thuyền chìm thì gã có sẵn sàng vứt hết hai quả táo xuống sông để cứu lấy bản thân mình không?”. Gã do dự một lát, rồi mới chậm rãi: “Vứt một quả thôi, gã sẽ vứt hết những thứ khác xuống sông ngoại trừ máy ảnh, điện thoại và một quả táo. Tại máy ảnh là gã mượn của Young Jae, điện thoại của gã có chứa hình của Hiroki, và Him Chan thì thích táo.”

Gã vẫn luôn nhớ đến mọi người.

Nhưng Elsa đùa đấy, thuyền không chìm. Hoặc cũng có thể là do ông già phù thủy đã dùng phép thuật để đưa con thuyền trở về an toàn. Yong Guk biết thuyền sẽ chìm nếu như gã cứ khư khư giữ hai quả táo. Và gã biết ơn vì nó đã không chìm.

Khi cô gái hát đến câu cuối cùng của bài “Apple, Papple, Pirum, Parum” lần thứ ba, gã thấy xung quanh sáng hẳn lên rồi thuyền của gã chui ra khỏi đường hầm. Gã cá chắc rằng đến cả nhân viên ở đây cũng chưa chắc biết đến chuyện “Vườn táo của ông già phù thủy” vì họ đều cười nồng nhiệt với gã và Elsa khi thuyền của họ đã rất lâu rồi mới xuất hiện lại.

“Thực ra chúng ta chỉ vừa mới đi có năm phút thôi. Mọi người sẽ không biết đâu.” – Elsa nháy mắt với gã, khi gã giúp cô bước lên bờ.

“Chẳng lẽ chỉ có mỗi cô vào được đó thôi sao?” – Yong Guk thắc mắc.

“Cũng có thể sẽ có những đứa trẻ khác đến được đó. Nhưng ai mà biết được chứ, vì chúng đều sẽ không nói ra.” – Elsa và gã sóng vai đi đến khu trò chơi cảm giác mạnh.

“Tại sao?” – gã ngạc nhiên. Chẳng phải trẻ con thì luôn kể những trải nghiệm của chúng cho người khác nghe sao?

“Giả sử nếu con anh đi vào đó và sau đó trở ra, nó kể với anh về một ông già lạ hoắc có một vườn táo kì dị, anh có tin không?” – Elsa đặt câu hỏi.

“…” – gã nhận ra mình hiểu chút chút.

“Hầu hết bọn trẻ con sẽ quên đi chuyện này khi chúng dần lớn lên, chỉ có tôi là vẫn nhớ cách để quay trở lại đó. Vì thế mà cô gái đó mới nhờ tôi đấy, cô ấy cũng quên mất đường quay lại rồi!” – Elsa thở dài. Người ta càng lớn lên thì sẽ càng quên đi những điều kì diệu mà mình từng tôn thờ lúc còn bé.

“Cô gái đó?” – gã nhìn thấy Elsa thò tay vào trong túi quần jeans lôi ra một tờ danh thiếp hơi nhàu.

“Là Louis.” – cô mỉm cười.

Gröna Lund rực rỡ giữa trời đêm.

Advertisements

One thought on “[Series][YongGuk-Centric/BangHim][PG-15] Những chuyến đi xa – Thụy Điển (3)

Trả xiền đê xD~

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s